Đề xuất Bộ Chỉ số Văn hóa quốc gia (V-Culture Index) nhằm hoàn thiện công cụ đo lường và đánh giá phát triển văn hóa

Ngày đăng: 26/06/2026 Lượt xem: 50
Mặc định Cỡ chữ

Ngày 26.06.2026, tại trụ sở Bộ VHTTDL, Bộ VHTTDL tổ chức “Tọa đàm Tham vấn Dự thảo Bộ Chỉ số Văn hóa quốc gia (V-Culture Index)”. PGS.TS Nguyễn Thị Thu Phương - Viện trưởng Viện Văn hoá, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam, đơn vị được giao nhiệm vụ thực hiện Bộ chỉ số chủ trì Tọa đàm.

Thông tin về Dự thảo Bộ chỉ số văn hóa quốc gia (V-Culture Index), PGS.TS Nguyễn Thị Thu Phương cho biết, quá trình phát triển văn hóa thời gian qua đã đạt nhiều kết quả tích cực, khẳng định vai trò của văn hóa đối với phát triển kinh tế - xã hội và được phản ánh qua sự gia tăng về di sản, thiết chế văn hóa, lao động, việc làm và doanh thu các ngành văn hóa. Tuy nhiên, hệ thống thống kê và công cụ đánh giá phát triển văn hóa còn phân tán, chưa phản ánh đầy đủ đóng góp của văn hóa và chưa đáp ứng yêu cầu hoạch định chính sách dựa trên dữ liệu.

Nghị quyết 80-NQ/TW đặt ra yêu cầu đổi mới thể chế, phát triển toàn diện văn hóa và con người Việt Nam, đồng thời đưa ra nhiệm vụ xây dựng Bộ chỉ số văn hóa quốc gia (V-Culture Index) là rất thiết thực. Việc xây dựng Bộ chỉ số văn hóa quốc gia không chỉ nhằm kế thừa các kết quả nghiên cứu đi trước mà còn hoàn thiện công cụ đo lường và đánh giá phát triển văn hóa theo hướng toàn diện, hiện đại và dựa trên dữ liệu, từ đó góp phần nâng cao hiệu lực quản trị văn hóa, thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa và đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới”, PGS.TS Nguyễn Thị Thu Phương nhấn mạnh.

PGS.TS Nguyễn Thị Thu Phương, Viện trưởng VICAST chủ trì tọa đàm tham vấn ý kiến chuyên gia nhằm hoàn thiện Bộ Chỉ số văn hóa quốc gia (V-Culture Index).

Mục đích của việc xây dựng Bộ chỉ số nhằm phục vụ theo dõi, đánh giá tình hình phát triển văn hóa trên phạm vi cả nước theo hướng toàn diện, thống nhất và có khả năng so sánh giữa các giai đoạn và lĩnh vực; hỗ trợ cơ quan quản lý nhà nước trong công tác tham mưu, hoạch định, điều chỉnh và tổ chức thực hiện chính sách, chiến lược, quy hoạch, chương trình, đề án về phát triển văn hóa trên cơ sở dữ liệu và bằng chứng thực tiễn; chuẩn hóa hệ thống thông tin, dữ liệu và phương pháp đánh giá trong lĩnh vực văn hóa; tăng cường khả năng thu thập, tổng hợp, phân tích và chia sẻ dữ liệu phục vụ công tác quản lý nhà nước về văn hóa.

Về mặt phương pháp, nhóm nghiên cứu Viện VHNTTTDLVN đã kế thừa phương pháp xây dựng chỉ số văn hóa được UNESCO xây dựng và áp dụng tại Việt Nam, đồng thời  rà soát các văn kiện chỉ đạo của Đảng về phát triển văn hóa, các Nghị quyết của Quốc hội và các chiến lược phát triển cấp quốc gia, từ đó đề xuất một danh sách dự kiến gồm 26 chỉ số được chia thành 05 nhóm:

Nhóm 1: Chính sách và quản trị văn hóa;

Nhóm 2: Cơ sở hạ tầng và tài nguyên văn hóa;

Nhóm 3: Tiếp cận, thực hành và tham gia văn hóa;

Nhóm 4: Công nghiệp văn hóa và sáng tạo;

Nhóm 5: Giá trị, bản sắc và phát triển con người.

Trong mỗi nhóm lại gồm các chỉ số cụ thể như sau:  

- Nhóm 1: Chính sách và quản trị văn hóa (06 chỉ số)

         + Chỉ số 1. Hoàn thiện thể chế và chính sách văn hóa

         + Chỉ số 2. Minh bạch và trách nhiệm giải trình

         + Chỉ số 3. Bao trùm và công bằng trong chính sách văn hóa

         + Chỉ số 4. Chuyển đổi số trong quản trị văn hóa

         + Chỉ số 5. Nguồn lực tài chính cho văn hóa

         + Chỉ số 6. Chất lượng nguồn nhân lực quản trị văn hóa

- Nhóm 2: Cơ sở hạ tầng và tài nguyên văn hóa (04 chỉ số)

         + Chỉ số 7. Quy mô nguồn lực di sản văn hóa

         + Chỉ số 8. Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa

         + Chỉ số 9. Hệ thống thiết chế văn hóa

         + Chỉ số 10. Không gian công cộng phục vụ mục đích văn hóa

- Nhóm 3: Tiếp cận, thực hành và tham gia văn hóa (04 chỉ số)

         + Chỉ số 11. Chi tiêu dành cho văn hóa của hộ gia đình

         + Chỉ số 12. Tham gia văn hóa, thể thao

         + Chỉ số 13. Sáng tạo nghệ thuật

         + Chỉ số 14. Hoạt động văn hóa quần chúng

- Nhóm 4: Công nghiệp văn hóa và sáng tạo (07 chỉ số)

         + Chỉ số 15. Đóng góp của văn hóa trong tổng sản phẩm trong nước (GDP)

         + Chỉ số 16. Việc làm trong ngành văn hóa

         + Chỉ số 17. Năng suất lao động xã hội của các ngành kinh tế trong      lĩnh vực văn hóa

         + Chỉ số 18. Doanh nghiệp trong lĩnh vực văn hóa

         + Chỉ số 19. Thương mại văn hóa quốc tế

         + Chỉ số 20. Bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan

         + Chỉ số 21. Hỗ trợ phát triển thị trường công nghiệp văn hóa và sáng tạo

- Nhóm 5: Giá trị, bản sắc và phát triển con người (05 chỉ số)

         + Chỉ số 22. Trao truyền tri thức và giá trị văn hóa

         + Chỉ số 23. Bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc thiểu số

         + Chỉ số 24. Giáo dục đa ngôn ngữ

         + Chỉ số 25. Giáo dục văn hóa và nghệ thuật

         + Chỉ số 26. Đào tạo văn hóa và nghệ thuật

Dự thảo nêu rõ, Bộ chỉ số văn hóa quốc gia áp dụng đối với các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc thu thập, cung cấp, tổng hợp, phân tích và sử dụng dữ liệu phục vụ đánh giá phát triển văn hóa.

Quang cảnh tọa đàm.

Tại Tọa đàm, các chuyên gia, nhà khoa học đánh giá cao sự chuẩn bị công phu, nghiêm túc của cơ quan soạn thảo, đồng thời đóng góp nhiều ý kiến nhằm hoàn thiện Dự thảo Bộ chỉ số văn hóa quốc gia. PGS.TS Nguyễn Thị Phương Châm - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Văn hóa, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam cho rằng, Bộ chỉ số văn hóa quốc gia  cần được xây dựng trên cơ sở minh bạch, bao trùm và bảo đảm khả năng áp dụng đối với mọi đối tượng. Bà cũng gợi ý một số chỉnh sửa về mặt từ ngữ để tên gọi các chỉ số cô đọng và chính xác hơn, từ đó dễ đo lường và tính toán hơn. 

PGS.TS Nguyễn Thị Phương Châm đánh giá nhóm chỉ số về công nghiệp văn hóa là điểm sáng của Bộ chỉ số. Việc đưa lĩnh vực công nghiệp văn hóa vào hệ thống chỉ tiêu thể hiện sự cập nhật với xu hướng phát triển mới, góp phần phản ánh đầy đủ hơn vai trò của văn hóa trong tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững.

PGS.TS Nguyễn Thị Phương Châm nêu ý kiến tại tọa đàm.

GS.TS Từ Thị Loan - nguyên Quyền Viện trưởng Viện Văn hóa nghệ thuật quốc gia Việt Nam, Viện trưởng Viện nghiên cứu văn hóa Thăng Long nêu lên một số góp ý về việc sắp xếp, phân nhóm lại một số chỉ số, đồng thời gợi ý về mức độ ảnh hưởng đối với các nhóm công chúng như nghệ sỹ, người thực hành, từ đó bà đề nghị nhóm nghiên cứu có những tiếp cận sâu hơn, cụ thể hơn với từng nhóm.

GS.TS Từ Thị Loan nêu ý kiến tại tọa đàm.

Bà Phạm Thu Hà – Vụ Khoa học Công nghệ, Đào tạo và Môi trường, Bộ VHTTDL nêu ý kiến, hồ sơ dự thảo đã được chuẩn bị công phu, có cấu trúc tương đối đầy đủ, bao quát nhiều nội dung lớn. Tuy nhiên nhóm soạn thảo cần rà soát mối quan hệ giữa các chỉ số trong nhóm Giá trị, bản sắc và phát triển con người. Bởi các chỉ số đều liên quan đến giáo dục, trao truyền, bảo tồn ngôn ngữ, di sản, bản sắc văn hóa và phát triển con người. Vì vậy cần có bảng phân định rõ nội hàm từng chỉ số: chỉ số nào đo hoạt động trong cộng đồng, chỉ số nào đo trong nhà trường, chỉ số nào đo bảo tồn ngôn ngữ dân tộc thiểu số. Việc phân định này sẽ giúp tránh trùng lặp dữ liệu và thuận lợi khi tổ chức thu thập, tổng hợp.

Bà Phạm Thu Hà nêu ý kiến tại tọa đàm.

Phát biểu tổng kết Tọa đàm, PGS.TS Nguyễn Thị Thu Phương trân trọng cảm ơn ý kiến đóng góp của các chuyên gia, nhà khoa học và khẳng định đây sẽ là những cơ sở quan trọng để cơ quan soạn thảo tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Bộ chỉ số văn hóa quốc gia./.

Bài, ảnh: Anh Tuấn

Bình luận