Kỷ niệm 81 năm Ngày truyền thống ngành Văn hóa (28.8.1945 - 28.8.2026) không chỉ là dịp nhìn lại một hành trình đã gắn bó sâu sắc với sự nghiệp cách mạng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quan trọng hơn, đây là thời điểm để ngành Văn hóa xác định một tâm thế mới: giữ vững mạch nguồn dân tộc nhưng không khép mình trong quá khứ; bảo vệ những giá trị cốt lõi nhưng không ngăn cản sáng tạo; tiếp tục thực hiện sứ mệnh “soi đường cho quốc dân đi”, đồng thời trở thành nguồn lực nội sinh, sức mạnh mềm và động lực kiến tạo tương lai đất nước.
Từ giữ lửa tinh thần dân tộc đến khơi thông nguồn lực văn hoá
Ngày 28.8.1945, trong những ngày đầu tiên của chính quyền cách mạng, Bộ Thông tin, Tuyên truyền - tiền thân của ngành Văn hóa ngày nay - được thành lập. Sự kiện ấy cho thấy một tầm nhìn đặc biệt: để bảo vệ nền độc lập, quy tụ lòng dân và xây dựng xã hội mới, nhất thiết phải tạo dựng được nền tảng tinh thần tương xứng.
Trong những năm tháng kháng chiến, văn hóa không đứng bên ngoài cuộc đấu tranh của dân tộc. Văn học, nghệ thuật, báo chí, điện ảnh và các hoạt động văn hóa quần chúng đã trở thành một mặt trận. Lời thơ, tiếng hát, trang sách và những thước phim bồi đắp lòng yêu nước, nuôi dưỡng niềm tin, biến tình cảm quê hương thành ý chí chiến đấu và khát vọng độc lập.
Tổng Bí thư Tô Lâm, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và các đại biểu tham quan triển lãm tại Lễ kỷ niệm 80 năm ngành Văn hoá (28.8.1945 - 28.8.2025). Ảnh: Trần Huấn
PGS.TS BÙI HOÀI SƠNNhững người làm văn hóa khi ấy không chỉ sáng tạo tác phẩm. Họ còn trực tiếp góp phần hình thành nên diện mạo tinh thần của một dân tộc đang đấu tranh để tự quyết định vận mệnh của mình. Nhiều người vừa là nghệ sĩ, trí thức, cán bộ, vừa là chiến sĩ; đem tài năng và cả cuộc đời phụng sự nhân dân. Chính từ thực tiễn ấy, tư tưởng “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi” trở thành một triết lý có sức sống lâu bền: văn hóa không phải là phần trang trí bên ngoài sự phát triển mà là ánh sáng định hướng cho con người và xã hội.
Trong công cuộc kiến thiết đất nước, thống nhất non sông và tiến hành đổi mới, ngành Văn hóa tiếp tục thực hiện một nhiệm vụ âm thầm nhưng vô cùng hệ trọng: giữ cho mạch nguồn văn hóa dân tộc không bị đứt gãy qua những biến động của lịch sử. Chúng ta đã phục hồi, bảo vệ và phát huy hàng nghìn di tích; nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể được thế giới ghi danh; các loại hình văn học, nghệ thuật không ngừng tìm tòi, đổi mới; phong trào xây dựng đời sống văn hóa từ cơ sở góp phần củng cố sự gắn kết cộng đồng. Giao lưu quốc tế ngày càng mở rộng, giúp hình ảnh đất nước, con người Việt Nam đến gần hơn với bạn bè thế giới.
Thành tựu lớn nhất của 81 năm ngành Văn hóa, vì thế, không chỉ được đo bằng số lượng di sản, công trình, danh hiệu hay tác phẩm. Thành tựu sâu xa hơn là chúng ta đã giữ được căn cốt văn hóa của dân tộc; giữ được tiếng Việt, ký ức cộng đồng, lòng yêu nước, tinh thần nhân nghĩa, ý chí tự cường và khát vọng hướng thiện. Chính nền tảng ấy giúp dân tộc Việt Nam có thể tiếp nhận tinh hoa nhân loại mà không hòa tan, hội nhập ngày càng sâu rộng nhưng vẫn nhận ra khuôn mặt tinh thần của chính mình.
Tuy nhiên, niềm tự hào về quá khứ không thể thay thế cho tinh thần nhìn thẳng vào những vấn đề của hiện tại. Trong một số giai đoạn, văn hóa vẫn chưa được đặt đúng tầm, chưa thực sự ngang hàng với kinh tế và chính trị. Ở một số nơi, văn hóa còn bị hiểu hẹp là lễ hội, biểu diễn, tuyên truyền hoặc những hoạt động mang tính phong trào; chưa được nhìn nhận đầy đủ như một hệ điều tiết sự phát triển, hình thành nhân cách, củng cố niềm tin và tạo dựng sức hấp dẫn của đất nước.
Một di sản có thể được xếp hạng nhưng vẫn mất dần sức sống nếu cộng đồng không còn gắn bó với nó. Một nhà văn hóa có thể được xây dựng khang trang nhưng vẫn vắng người nếu hoạt động không đáp ứng nhu cầu thực tế. Một tác phẩm có thể được đầu tư lớn nhưng chưa chắc chạm đến trái tim công chúng. Vì vậy, thước đo cuối cùng của công việc văn hóa không thể dừng ở số lượng sự kiện, danh hiệu hay công trình, mà phải là những giá trị tốt đẹp được con người tiếp nhận, thực hành và trao truyền trong đời sống hằng ngày.
Trong giai đoạn mới, yêu cầu đặt ra không chỉ là tiếp tục bảo tồn những gì cha ông để lại, mà còn phải chuyển hóa nguồn vốn văn hóa thành năng lực sáng tạo, sản phẩm có giá trị và sức mạnh phát triển. Bảo tồn không thể đồng nghĩa với đóng kín di sản trong tủ kính. Di sản phải sống trong cộng đồng, tham gia vào đời sống đương đại, tạo ra sinh kế chính đáng và truyền cảm hứng cho những sáng tạo mới. Đó là cách tốt nhất để quá khứ trở thành điểm tựa cho tương lai.
Kiến tạo một hệ sinh thái để văn hoá trở thành động lực phát triển
Bước vào kỷ nguyên số, môi trường hoạt động của ngành Văn hóa đang thay đổi nhanh chóng. Trí tuệ nhân tạo, kinh tế sáng tạo và các nền tảng xuyên biên giới làm biến đổi cách con người sáng tạo, phân phối và hưởng thụ văn hóa. Một sản phẩm Việt Nam có thể tiếp cận công chúng toàn cầu chỉ sau vài giây, nhưng nội dung độc hại cũng có thể lan truyền với tốc độ tương tự. Dữ liệu, bản quyền và công nghệ đang trở thành những yếu tố quan trọng của quyền lực văn hóa.
Trong bối cảnh ấy, ngành Văn hóa không thể chỉ tiếp tục vận hành bằng tư duy cấp phép, kiểm soát và xử lý sự vụ. Cần thực hiện bước chuyển mạnh mẽ từ “quản lý văn hóa” sang “kiến tạo phát triển văn hóa”. Kiến tạo không có nghĩa là buông lỏng quản lý, mà là chuyển sang một năng lực quản trị cao hơn: Nhà nước xác lập tầm nhìn, hoàn thiện luật chơi, bảo vệ những giá trị cốt lõi, đầu tư vào những lĩnh vực thị trường không thể thay thế; đồng thời tạo môi trường để văn nghệ sĩ, doanh nghiệp, cộng đồng và mỗi người dân phát huy năng lực sáng tạo.
Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam và Nghị quyết số 28/2026/QH16 của Quốc hội đã tạo ra một bước chuyển quan trọng về nhận thức và thể chế. Văn hóa ngày càng được nhìn nhận đầy đủ hơn trong mối quan hệ hữu cơ giữa nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, sức mạnh mềm và động lực tăng trưởng. Vấn đề còn lại là phải đưa tinh thần của các nghị quyết vào cuộc sống bằng chương trình, dự án, nguồn lực và cơ chế thực thi cụ thể; tránh tình trạng chủ trương rất đúng nhưng triển khai chậm, phân tán hoặc thiếu khả năng đo lường.
Trước hết, cần chuyển từ bảo tồn thụ động sang bảo tồn sống. Di sản chỉ thực sự có tương lai khi được cộng đồng tiếp tục thực hành, được thế hệ trẻ đón nhận và được sáng tạo lại một cách có trách nhiệm. Số hóa, hộ chiếu số, bảo tàng thông minh, công nghệ thực tế ảo và các nền tảng kể chuyện mới có thể mở rộng khả năng tiếp cận di sản. Tuy nhiên, công nghệ không thể thay thế con người và cộng đồng. Quá trình số hóa phải đi đôi với bảo vệ dữ liệu, bản quyền, tri thức truyền thống và quyền lợi của chủ thể nắm giữ di sản.
“Vốn mồi” của Nhà nước cần dẫn dắt các nguồn lực xã hội. Cơ chế hợp tác công - tư phải được hoàn thiện để doanh nghiệp có thể tham gia khai thác không gian công cộng, tài sản công và giá trị kinh tế của di sản nhưng vẫn bảo đảm lợi ích của Nhà nước, cộng đồng và các thế hệ tương lai. Không thể để những nhà hát, bảo tàng, công trình văn hóa hoặc không gian có giá trị bị bỏ không vì sợ trách nhiệm, nhưng cũng không thể nhân danh xã hội hóa để tư nhân hóa lợi ích và đẩy rủi ro về phía Nhà nước.
Phát triển công nghiệp văn hóa cũng không nên được hiểu đơn giản là thương mại hóa văn hóa. Đó là quá trình tổ chức sự sáng tạo thành chuỗi giá trị, để một ý tưởng có thể trở thành tác phẩm, sản phẩm, dịch vụ và tài sản trí tuệ có khả năng cạnh tranh. Một bộ phim thành công không chỉ tạo doanh thu phòng vé mà còn có thể quảng bá du lịch, âm nhạc, thời trang, ẩm thực và địa điểm quay. Một lễ hội được tổ chức tốt có thể tạo thêm thị trường cho thủ công truyền thống, thiết kế, nghệ thuật biểu diễn và sinh kế cộng đồng. Muốn làm được điều đó, chính sách văn hóa phải có tư duy liên ngành, liên vùng, tránh tình trạng mỗi cơ quan quản lý một phần khiến nguồn lực không thể kết nối thành hệ sinh thái.
Đặc biệt, Nhà nước không chỉ có trách nhiệm mở đường mà còn phải bảo vệ sự sáng tạo. Một thị trường văn hóa lành mạnh không thể hình thành nếu bản quyền bị xâm phạm, nghệ sĩ không sống được bằng lao động nghề nghiệp, còn các sản phẩm sao chép và nội dung câu khách lại chiếm ưu thế. Cần phát triển hạ tầng bản quyền số, cơ chế chia sẻ doanh thu công bằng, công cụ bảo vệ dữ liệu văn hóa và trách nhiệm minh bạch của các nền tảng xuyên biên giới. Chỉ khi quyền lợi hợp pháp của người sáng tạo được tôn trọng, chúng ta mới có thể khuyến khích tài năng, thu hút đầu tư và hình thành những thương hiệu văn hóa Việt Nam đủ sức vươn ra thế giới.
Trung tâm của toàn bộ quá trình ấy phải là con người. Chúng ta có thể xây dựng thêm nhiều công trình, tổ chức thêm nhiều lễ hội, tạo ra nhiều sản phẩm, nhưng nếu con người trở nên vô cảm hơn, gia đình lỏng lẻo hơn, cộng đồng chia rẽ hơn và niềm tin xã hội suy giảm thì phát triển văn hóa chưa đạt tới mục tiêu. Văn hóa phải góp phần hình thành những con người có lòng yêu nước, nhân ái, trung thực, trách nhiệm, kỷ luật và sáng tạo; biết tôn trọng sự khác biệt nhưng không thờ ơ với lợi ích chung; có năng lực hội nhập mà không đánh mất bản sắc.
Trong môi trường số, một nhiệm vụ cấp thiết khác là xây dựng “sức đề kháng văn hóa” và “sức đề kháng số” cho mỗi công dân, nhất là thanh thiếu niên. Quản lý bằng việc gỡ bỏ và xử phạt luôn đi sau sự việc. Giải pháp căn cơ hơn phải là sự kết hợp giữa pháp luật, công nghệ, giáo dục, trách nhiệm của nền tảng, vai trò của gia đình và khả năng tự chủ của mỗi con người. Bên cạnh ngăn chặn cái xấu, cần tạo ra nhiều sản phẩm tốt, hấp dẫn, nhân văn để cái đẹp có khả năng dẫn dắt công chúng.
Trong bài phát biểu tại Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống ngành Văn hóa, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh văn hóa phải đi trước một bước, soi đường, dẫn dắt, bồi đắp bản lĩnh, củng cố niềm tin và hình thành năng lực mềm quốc gia. “Đi trước” không có nghĩa là áp đặt những khuôn mẫu có sẵn lên đời sống. Đi trước là khả năng nhận diện sớm những biến đổi xã hội, dự báo các vấn đề văn hóa và đạo đức sẽ nảy sinh, đồng thời tạo ra những giá trị đủ sức thuyết phục để con người tự nguyện hướng tới điều tốt đẹp.
Kỷ niệm 81 năm Ngày truyền thống ngành Văn hóa, chúng ta có quyền tự hào về một hành trình đã đồng hành cùng dân tộc qua chiến tranh, kiến quốc, đổi mới và hội nhập. Nhưng tự hào về quá khứ phải được chuyển hóa thành trách nhiệm đối với tương lai. Ngành Văn hóa cần tiếp tục giữ mạch nguồn truyền thống nhưng phải dũng cảm mở đường cho sáng tạo; bảo vệ bản sắc nhưng không khép mình; phát triển thị trường nhưng không đánh đổi các giá trị cốt lõi; ứng dụng công nghệ nhưng luôn đặt con người và phẩm giá con người ở vị trí trung tâm.
Khi văn hóa thấm sâu vào từng quyết sách, từng thiết chế và từng hành vi xã hội; khi mỗi người dân vừa là người thụ hưởng, vừa là chủ thể sáng tạo và đại sứ của văn hóa dân tộc, văn hóa sẽ không chỉ giúp chúng ta biết mình là ai, mà còn trao cho đất nước sức mạnh để kiến tạo một tương lai phồn vinh, hạnh phúc, nhân văn và có vị thế xứng đáng trên thế giới.
PGS.TS Bùi Hoài Sơn
Bình luận
Bài viết cùng chuyên mục