Tạo đột phá thể chế, khơi thông nguồn lực phát triển công nghiệp văn hóa

Ngày đăng: 08/09/2026 Lượt xem: 40
Mặc định Cỡ chữ

Sáng 8.9, tại Hà Nội, Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội và Bộ VHTTDL có buổi làm việc về dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hoá.

Dự cuộc họp có Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội Nguyễn Đắc Vinh; Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ VHTTDL Lâm Thị Phương Thanh. 

Cùng tham dự cuộc họp có Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ VHTTDL Nguyễn Huy Dũng, các Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội Đặng Xuân Phương, Tạ Văn Hạ; cùng các Ủy viên Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội và lãnh đạo một số đơn vị liên quan của Bộ VHTTDL

Hoàn thiện thể chế tạo đột phá chiến lược

Báo cáo tại cuộc họp, về căn cứ và sự cần thiết ban hành Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, Thứ trưởng Bộ VHTTDL Nguyễn Huy Dũng cho biết, Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9.6.2014 lần đầu xác định rõ nhiệm vụ phát triển công nghiệp văn hóa gắn với xây dựng thị trường văn hóa, khuyến khích xuất khẩu sản phẩm văn hóa, thu hút nguồn lực xã hội và hoàn thiện môi trường pháp lý.

Kết luận số 76-KL/TW ngày 4.6.2020 tiếp tục yêu cầu tăng cường bảo hộ quyền tác giả, đa dạng hóa nguồn lực đầu tư, rà soát và xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích sáng tạo, đầu tư cơ sở vật chất và công nghệ.

Kết luận số 84-KL/TW ngày 21.6.2024 tiếp tục khẳng định yêu cầu phát triển công nghiệp văn hóa đi đôi với xây dựng, hoàn thiện thị trường văn hóa.

Các chủ trương nêu trên đã được thể chế hoá bằng nhiều luật chuyên ngành. Về cơ bản, các luật chuyên ngành đã hoàn thiện hành lang pháp lý để quản lý nhà nước.

Tuy nhiên, theo Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng, khái niệm “công nghiệp văn hoá” chưa được luật hoá. Chính sách kiến tạo phát triển công nghiệp văn hoá vì vậy chưa liền mạch, rõ ràng, đặc biệt là có sự đứt gãy ở từng khâu trong chuỗi giá trị công nghiệp văn hoá, chưa có một luật điều chỉnh tổng thể các vấn đề liên ngành theo chuỗi từ sáng tạo, hình thành tài sản trí tuệ, sản xuất, phân phối đến thị trường và tái đầu tư. 

Bên cạnh đó, Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam nhận định việc thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng thành chính sách, pháp luật còn chậm, chưa đồng bộ, có mặt thiếu đột phá; công nghiệp văn hóa, công nghiệp giải trí phát triển chưa tương xứng với tiềm năng; nguồn lực phát triển văn hóa còn hạn chế.

Nghị quyết yêu cầu “hoàn thiện thể chế tạo đột phá chiến lược, khơi thông nguồn lực phát triển văn hóa” và xác định nhiệm vụ xây dựng các luật về hoạt động nghệ thuật, văn học, bản quyền tác giả, công nghiệp văn hóa theo hướng kiến tạo, khơi thông nguồn lực.

Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030 các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP, hình thành từ 5 đến 10 thương hiệu quốc gia trong các lĩnh vực có tiềm năng; đến năm 2045 công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo phấn đấu đóng góp 9% GDP.

Để thực hiện các mục tiêu này, cần có khung pháp lý ổn định về tài sản trí tuệ, nhân lực, hạ tầng, thị trường và đầu tư, tài chính thay vì chỉ dựa vào chương trình, đề án hoặc cơ chế hỗ trợ ngắn hạn.

Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng cũng cho biết, tại Phiên họp của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam, ý kiến chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm được thông báo tại Thông báo số 129-TB/VPTW ngày 30.7.2026, yêu cầu tiếp tục hoàn thiện thể chế, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho phát triển văn hóa. Thông báo cũng giao Đảng ủy Chính phủ chỉ đạo Bộ VHTTDL rà soát, hoàn thiện đồng bộ pháp luật, cơ chế, chính sách, trong đó trọng tâm là nghiên cứu xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa.

Tiếp đó, tại buổi làm việc với Bộ VHTTDL ngày 19.8.2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu Luật Phát triển công nghiệp văn hóa phải có các chính sách đặc thù, vượt trội, vượt khung, tập trung vào ngân sách nhà nước, đất đai, thuế, tín dụng, giáo dục, đào tạo, nhân tài, hạ tầng văn hóa số và ứng dụng công nghệ cao; qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh của công nghiệp văn hóa Việt Nam và sức mạnh mềm quốc gia.

Chỉ đạo nêu trên đặt yêu cầu Luật phải giải quyết được các điểm nghẽn đã xác định, nhất là nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa.

Trên cơ sở đó, sau thẩm định, cơ quan soạn thảo tiếp tục rà soát các chính sách về thuế, đầu tư, tài sản trí tuệ, tài chính, thu hút đoàn phim quốc tế và huy động nguồn lực xã hội. Các cơ chế, chính sách được thiết kế gắn với đối tượng và điều kiện áp dụng.

Cũng theo Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng, Nghị quyết số 28/2026/QH16 về phát triển văn hóa Việt Nam xác định Bộ VHTTDL là đầu mối chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về công nghiệp văn hóa và chủ trì, phối hợp xây dựng văn bản quy phạm pháp luật về công nghiệp văn hóa trình cơ quan có thẩm quyền. Đây là căn cứ pháp lý trực tiếp đối với việc xây dựng Dự án Luật.

Dự thảo Luật kế thừa và cụ thể hóa các định hướng của Nghị quyết số 28/2026/QH16, trong đó có phát triển công trình công nghiệp văn hóa, tổ hợp sáng tạo văn hóa, cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa, huy động nguồn lực và phân cấp cho địa phương. Các nội dung này được đặt trong mối quan hệ với pháp luật về đầu tư, thuế, đất đai, tài sản công, tín dụng và sở hữu trí tuệ để bảo đảm khả năng thực hiện sau khi Luật có hiệu lực.

Về cơ sở thực tiễn, Thứ trưởng cho biết, Việt Nam có nguồn tài nguyên văn hóa phong phú, lực lượng lao động trẻ, khả năng tiếp cận công nghệ nhanh, cộng đồng sáng tạo số lớn và khu vực tư nhân ngày càng tham gia sâu vào các hoạt động sáng tạo.

Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, trò chơi giải trí, thiết kế sáng tạo, quảng cáo, thủ công mỹ nghệ, du lịch văn hóa, xuất bản… và nội dung số.

Tuy nhiên, nhiều điểm nghẽn chưa được xử lý đồng bộ, như: Hạ tầng dùng chung và không gian sáng tạo; tài sản trí tuệ khó định giá; đào tạo chưa gắn chặt với nhu cầu thị trường; doanh nghiệp nhỏ khó tiếp cận thị trường quốc tế; chính sách thu hút nhà đầu tư chiến lược và các đoàn sản xuất quốc tế chưa đủ cạnh tranh.

Đây là các vấn đề trực tiếp ảnh hưởng đến khả năng đóng góp vào tăng trưởng kinh tế 7% trở lên của các ngành công nghiệp văn hóa vào năm 2030.

Không quy định lại các nội dung đã được luật chuyên ngành điều chỉnh

Về mục tiêu ban hành, Thứ trưởng cho biết, Luật hướng tới ba mục tiêu: Xác lập địa vị pháp lý của công nghiệp văn hóa như một ngành kinh tế tạo ra sản phẩm trên cơ sở kết hợp yếu tố văn hóa, sáng tạo, công nghệ và quyền sở hữu trí tuệ; kết nối chuỗi giá trị để thúc đẩy sản xuất, xuất khẩu, thu hút đầu tư và phát triển doanh nghiệp; thông qua sản phẩm và thị trường để quảng bá giá trị văn hóa và thương hiệu Việt Nam.

Dự thảo được xây dựng theo nguyên tắc không quy định lại các nội dung đã được luật chuyên ngành điều chỉnh, mà quy định các chính sách, cơ chế chung để phát triển các sản phẩm của ngành như điện ảnh; mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm; nghệ thuật biểu diễn, âm nhạc; phần mềm, nội dung số và các trò chơi giải trí; quảng cáo; thủ công mỹ nghệ; du lịch văn hóa, ẩm thực; thiết kế sáng tạo, thời trang, kiến trúc; truyền hình và phát thanh; xuất bản với tư cách sản phẩm của nền công nghiệp văn hóa; ưu tiên làm rõ các nội dung chưa cụ thể, bổ sung khoảng trống pháp lý và xử lý có chọn lọc các điểm nghẽn. 

Luật quy định nội dung chính sách, nguyên tắc và thẩm quyền; quy trình, thủ tục kỹ thuật được giao Chính phủ hoặc Bộ trưởng quy định chi tiết, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cải cách triệt để thủ tục hành chính, tạo môi trường kiến tạo phát triển công nghiệp văn hóa. 

Dự thảo xác định chủ thể sáng tạo là trung tâm, doanh nghiệp và thị trường trực tiếp tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh; Nhà nước thực hiện vai trò quản lý và tạo điều kiện phát triển.

Quyền tài sản thuộc quyền tác giả, quyền liên quan và các quyền khai thác hợp pháp từ các quyền này được xác định là một trong những cơ sở hình thành giá trị kinh tế của sản phẩm công nghiệp văn hóa.

Việc phát triển phải đồng thời bảo đảm các yêu cầu về hệ giá trị quốc gia, bản sắc văn hóa, di sản, quốc phòng và an ninh.

Về phạm vi, đối tượng và bố cục, Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng cho biết, dự thảo Luật gồm 9 chương, 54 điều.

Theo Thứ trưởng, mặc dù dự án Luật được xây dựng theo trình tự, thủ tục rút gọn để kịp thời thể chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng về phát triển văn hóa, cơ quan soạn thảo vẫn tổ chức lấy ý kiến các bộ, ngành, địa phương, hội, hiệp hội, doanh nghiệp, chuyên gia và đối tượng chịu tác động; thực hiện thẩm định và các vòng tiếp thu, rà soát hồ sơ.

Trên cơ sở ý kiến thẩm định và ý kiến Chính phủ, dự thảo tiếp tục được chỉnh lý, trong đó làm rõ các quy định về phạm vi điều chỉnh, tính chất “chuỗi giá trị” của công nghiệp văn hóa; xác định rõ nội hàm các chính sách về tài sản trí tuệ, chính sách tín dụng dựa trên tài sản trí tuệ, chính sách phát triển hạ tầng công nghiệp văn hóa, ưu đãi đối với tài sản trí tuệ gốc và sản phẩm công nghiệp văn hóa trọng điểm.

Đồng thời, dự thảo sửa đổi, bổ sung một số quy định trong các luật có liên quan để tháo gỡ các “điểm nghẽn” thể chế, bảo đảm chính sách về hỗ trợ, ưu đãi trong dự án Luật có đầy đủ căn cứ pháp lý và tính khả thi khi triển khai trên thực tiễn.

Nguồn: baovanhoa.vn

Bình luận