Nghị quyết 80-NQ/TW: Khơi thông nguồn lực văn hóa trong kỷ nguyên mới

Ngày đăng: 12/05/2026 Lượt xem: 15
Mặc định Cỡ chữ

Để tinh thần của Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa thực sự thấm sâu vào đời sống, nhiệm vụ then chốt là phải khẩn trương thể chế hóa các quan điểm, định hướng này thành hệ thống pháp luật, cơ chế chính trị và chính sách đặc thù, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho sự nghiệp chấn hưng văn hóa Việt Nam.

Chú thích ảnh
Văn hoá soi đường - Khơi nguồn sáng tạo từ bản sắc truyền thống. Ảnh: Khánh Hòa/TTXVN

Nhận thức mới, tầm nhìn mới 

PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội, đại biểu Quốc hội khóa XVI của TP Hà Nội cho rằng: Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị ra đời trong bối cảnh đất nước đang nỗ lực hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng. Nghị quyết không chỉ kế thừa các giá trị truyền thống, mà còn đưa ra những đột phá trong tư duy quản lý văn hóa: Coi văn hóa ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội; khẳng định đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho tương lai, đầu tư cho sự phát triển bền vững.

Điểm nhấn của Nghị quyết 80-NQ/TW chính là việc xác định rõ mối quan hệ giữa "xây" và "chống", giữa bảo tồn giá trị cốt lõi và tiếp thu tinh hoa nhân loại. Đặc biệt, Nghị quyết nhấn mạnh việc xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam trong thời đại mới. Tuy nhiên, từ "quan điểm" đến "thực tiễn" là một khoảng cách lớn, và "thể chế hóa" chính là chiếc cầu nối bắt buộc để hiện thực hóa tầm nhìn chiến lược này.

Cũng theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, thể chế hóa không chỉ là việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, mà là quá trình cụ thể hóa ý chí của Đảng thành các quy tắc ứng xử, các tiêu chuẩn định mức và các chế tài cụ thể. 

Thứ nhất, để khắc phục tình trạng "trọng kinh tế, nhẹ văn hóa": Trong một thời gian dài, do áp lực tăng trưởng, văn hóa đôi khi bị xem là lĩnh vực tiêu tiền thay vì tạo ra giá trị. Thể chế hóa sẽ giúp xác lập vị thế của văn hóa trong các quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, buộc các địa phương và ngành hàng phải dành nguồn lực thỏa đáng cho văn hóa.

Thứ hai, để giải phóng các nguồn lực xã hội: Hiện nay, cơ chế "xã hội hóa" văn hóa vẫn còn nhiều rào cản về thuế, đất đai và thủ tục hành chính. Thể chế hóa sẽ tạo ra cơ chế "khơi thông" để các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân tự nguyện và hào hứng đầu tư vào các sản phẩm văn hóa, nghệ thuật.

Thứ ba, để bảo vệ chủ quyền văn hóa trên không gian mạng: Trong kỷ nguyên số, văn hóa ngoại lai xâm nhập không biên giới. Nếu không có hệ thống pháp luật đủ mạnh và linh hoạt được cụ thể hóa từ Nghị quyết 80, chúng ta sẽ lúng túng trong việc bảo vệ bản sắc dân tộc trước làn sóng toàn cầu hóa.

Chú thích ảnh
Các diễn giả toạ đàm chủ đề "Sách và Công nghiệp văn hoá”. Ảnh: Khánh Hoà/TTXVN

Trụ cột trọng tâm trong quá trình thể chế hóa

Để thực hiện hiệu quả Nghị quyết 80-NQ/TW, một số nhà nghiên cứu văn hóa cho rằng, hệ thống pháp luật và chính sách cần tập trung vào bốn trụ cột cốt lõi, đó là: Hoàn thiện hệ thống pháp luật chuyên ngành; Xây dựng cơ chế đặc thù cho "Công nghiệp văn hóa"; Thể chế hóa tiêu chuẩn về đạo đức và lối sống; Cơ chế phân bổ nguồn lực và đầu tư công.

Trước tiên, cần rà soát, sửa đổi và ban hành mới các luật liên quan như Luật Di sản văn hóa (sửa đổi), Luật Điện ảnh, Luật Sở hữu trí tuệ... Các quy định pháp luật phải thể hiện rõ tinh thần "kiến tạo": Không chỉ dừng lại ở quản lý, cấm đoán, mà phải thúc đẩy sáng tạo. Ví dụ, trong lĩnh vực điện ảnh hay nghệ thuật biểu diễn, luật pháp cần minh bạch hóa quy trình kiểm duyệt, đồng thời khuyến khích các đề tài mới lạ, mang tính quốc tế, nhưng vẫn giữ được bản sắc Việt.

Nghị quyết 80-NQ/TW định hướng phát triển công nghiệp văn hóa thành ngành kinh tế mũi nhọn. Để làm được điều này, Nhà nước cần thể chế hóa các chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng và quỹ hỗ trợ văn hóa. Chúng ta cần những "đặc khu văn hóa", hoặc các vườn ươm sáng tạo nghệ thuật được bảo trợ bằng pháp luật, nơi các nghệ sĩ và doanh nhân văn hóa có thể thử nghiệm những mô hình kinh doanh mới mà không bị bó hẹp bởi các quy định hành chính cũ kỹ.

Tiếp đó là xây dựng con người là trung tâm của Nghị quyết 80-NQ/TW. Việc thể chế hóa ở đây không chỉ là luật pháp mà còn là các bộ quy tắc ứng xử trong công sở, trường học và cộng đồng. Cần luật hóa các tiêu chuẩn về văn hóa công vụ, gắn trách nhiệm của người đứng đầu với việc xây dựng môi trường văn hóa tại cơ quan, đơn vị. Đồng thời, cần có cơ chế pháp lý để tôn vinh, bảo vệ những giá trị chân - thiện - mỹ và xử lý nghiêm các hành vi lệch chuẩn, phản văn hóa trên mạng xã hội.

Cuối cùng, cần thể chế hóa quy định về tỷ lệ chi ngân sách cho văn hóa. Không thể để văn hóa mãi là "vùng trũng" về đầu tư. Các chính sách về đất đai cho các công trình văn hóa, bảo tàng, thư viện cần được ưu tiên tương đương với đất công nghiệp hay thương mại. Đây là bước đi cụ thể nhất để chứng minh quan điểm "đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho phát triển".

Chú thích ảnh
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Hoài Sơn, Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội khẳng định, phát triển bền vững trước hết phải dựa vào con người và văn hóa. Ảnh: Diệu Thúy/TTXVN

PGS.TS Bùi Hoài Sơn nhận định, quá trình thể chế hóa Nghị quyết 80-NQ/TW chắc chắn sẽ gặp không ít khó khăn.

Trước tiên, đó là tư duy nhiệm kỳ và cục bộ; một số bộ, ngành, địa phương vẫn ưu tiên các dự án mang lại lợi ích kinh tế tức thì hơn là các dự án văn hóa mang tính dài hạn. Hai là, sự lạc hậu của hệ thống quản lý trước sự phát triển thần tốc của công nghệ. Các định hướng của Đảng về "văn hóa số" trong Nghị quyết 80-NQ/TW đòi hỏi các nhà làm luật phải có kiến thức chuyên sâu về trí tuệ nhân tạo, bản quyền trên blockchain, kinh tế nền tảng... vốn là những mảng miếng còn rất mới mẻ tại Việt Nam. Ba là, sự thiếu hụt nhân lực trình độ cao trong việc tham mưu xây dựng chính sách văn hóa. Chúng ta có nhiều nghệ sĩ giỏi, nhưng lại thiếu những chuyên gia vừa am hiểu nghệ thuật, vừa giỏi pháp lý và kinh tế để soạn thảo các văn bản thể chế hóa đủ tầm.

Theo các chuyên gia về văn hóa, để việc thể chế hóa Nghị quyết 80-NQ/TW đạt hiệu quả thực chất, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp, đó là: Nâng cao vai trò lãnh đạo của cấp ủy Đảng trong việc giám sát thể chế hóa. Đảng không làm thay Nhà nước, nhưng Đảng phải giám sát chặt chẽ quá trình xây dựng pháp luật để đảm bảo các văn bản ban hành không làm sai lệch tinh thần của Nghị quyết 80. Các kỳ họp Quốc hội, Hội đồng nhân dân cần dành thời gian thỏa đáng để thảo luận chuyên đề về thể chế văn hóa.

Đẩy mạnh cải cách hành chính trong lĩnh vực văn hóa; giảm bớt các thủ tục "xin - cho" trong cấp phép hoạt động văn hóa. Chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, lấy sự hài lòng của giới văn nghệ sĩ và công chúng làm thước đo hiệu quả của thể chế.

Xây dựng cơ chế đối thoại định kỳ giữa cơ quan hoạch định chính sách và giới sáng tạo. Thể chế hóa sẽ trở nên xơ cứng nếu không hơi thở của thực tiễn. Những vướng mắc về bản quyền, về kinh phí nhà nước đặt hàng tác phẩm nghệ thuật cần được lắng nghe và điều chỉnh kịp thời thông qua các diễn đàn văn hóa.

Chú trọng "định mức văn hóa" trong các dự án đầu tư; bất kỳ một dự án khu đô thị hay khu công nghiệp nào cũng phải có phần diện tích và ngân sách bắt buộc cho không gian văn hóa, thể thao. Đây phải là quy định pháp lý bắt buộc, không phải là sự khuyến khích đơn thuần.

Chú thích ảnh
Trình diễn múa khèn của đồng bào dân tộc Mông thu hút đông đảo du khách quan tâm. Ảnh: Thu Hằng/TTXVN

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dạy: "Văn hóa soi đường cho quốc dân đi". Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị chính là ngọn đuốc soi đường trong giai đoạn mới. Nhưng để ngọn đuốc ấy rực sáng, chúng ta cần một bộ máy thực thi hiệu quả thông qua việc thể chế hóa quyết liệt và khoa học.

Thể chế hóa quan điểm của Đảng về văn hóa không phải là công việc của riêng ngành văn hóa, mà là trách nhiệm của toàn hệ thống chính trị. Khi những tư tưởng mang tầm chiến lược của Nghị quyết 80 được chuyển hóa thành những điều luật đi vào lòng người, những chính sách khơi dậy sáng tạo, chúng ta sẽ tạo ra một luồng sinh khí mới. Một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đủ sức hội nhập và cạnh tranh toàn cầu sẽ là điểm tựa vững chắc để đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Nguồn: https://bvhttdl.gov.vn/

Bình luận